1 tháng 3, 2020

Xiêm La (Thái Lan): Nơi duy nhất ở Đông Nam Á không trở thành thuộc địa


Xiêm La (Thái Lan): Nơi duy nhất ở Đông Nam Á không trở thành thuộc địa
     
Trần Hưng


Hoàng gia Xiêm La. (Tranh qua sirinyas-thailand.de)

Thế kỷ 16, người Tây phương với vũ khí hiện đại đã dòm ngó và thôn tính các vùng đất ở phương Đông. Các nước Đông Nam Á trở thành mục tiêu của họ. Năm 1563 người Bồ Đào Nha xâm nhập Ma Cao, năm 1568 người Tây Ban Nha chiếm Philippines, người Hà Lan chiếm đảo Java (60% người Indonesia sinh sống ở đây), và đến thế kỷ 19 người Pháp đến Đại Nam và sau đó xâm chiếm Đông Dương. Trong khi các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa của phương Tây, thì duy nhất Xiêm La vẫn giữ được độc lập.

Xiêm La thực hiện chính sách mở cửa
Trong khi Đại Nam (tên của Việt Nam thời nhà Nguyễn) cùng các nước Đông Nam Á khác thực hiện chính sách “đóng cửa” trước sự dòm ngó của phương Tây, thì Xiêm La (tên nước cũ của Thái Lan) lại thực hiện chính sách “mở cửa”, quan hệ ngoại giao với phương Tây ở tất cả các lĩnh vực.
Nước phương Tây đầu tiên và Xiêm La đặt quan hệ là Bồ Đào Nha. Năm 1511, Bồ Đào Nha xác lập việc thống trị ở Malacca, đã gặp gỡ vua Xiêm và ngỏ ý muốn đặt cây thánh giá ở quảng trường lớn, vua Xiêm đồng ý. Đồng thời thiết lập quan hệ tốt với Bồ Đào Nha, xua Xiêm cũng ngỏ ý muốn mua đại bác của Bồ Đào Nha để tấn công Miến Điện (Myanmar).

Năm 1604, đến lượt người Hà Lan đến xin đặt các cơ sở buôn bán, vua Xiêm cũng đồng ý cho người Hà Lan được tự do buôn bán.
Sau đó người Anh cũng được đến tự do buôn bán. Nhưng do đến sau, người Anh bị người Hà Lan chèn ép, phải đóng cửa các thương điếm ở Xiêm La.
Năm 1662, người Anh lại đến Xiêm, đàm phán với vua Xiêm các điều khoản nhằm được tự do buôn bán và tránh bị người Hà Lan chèn ép như trước đây. Xiêm La đều vui vẻ đồng ý.
Cũng trong năm 1662, người Pháp đến Xiêm ngỏ ý muốn được tự do truyền đạo và buôn bán và được vua Xiêm chấp nhận.
Bằng chính sách ngoại giao mềm dẻo này, Xiêm La không chống lại phương Tây, mà sử dụng chính các nước phương Tây để chống lẫn nhau. Như khi thế lực Bồ Đào Nha quá mạnh, thì lại dùng Hà Lan để chống lại, đến khi Hà Lan mạnh rồi thì lại dựa vào người Anh để chống lại, v.v…

Hợp tác với phương Tây trong chiến tranh
Năm 1819, Anh chiếm được Singapore, chuẩn bị thôn tính Malaysia và thị trường Xiêm La.
Năm 1822, Anh có cuộc đàm phán với Xiêm La, yêu cầu được tự do buôn bán với quyền “tối huệ quốc”, nghĩa là có được chế độ thương mại thuận lợi nhất. Phía Xiêm đề nghị Anh bán vũ khí cho mình. Cuộc đàm phán này đã đi đến Hiệp ước ngày 10/6/1822 giữa Anh và Xiêm La.
Năm 1824, trước việc Miến Điện thường xuyên tấn công Ấn Độ là thuộc địa của mình, Anh quyết định tấn công Miến Điện. Vua Xiêm là Rama III liền cho quân tới biên giới Miến Điện, định chờ cơ hội khi hai bên mệt mỏi hoặc sa lầy thì tiến qua Miến Điện thủ lợi. Tuy nhiên khi Anh đề nghị Xiêm cùng mình tấn công Miến Điện, nhận thấy cuộc tấn công này chỉ có lợi cho Anh, Xiêm La không đồng ý tiến quân.
Năm 1825, Anh cử phái đoàn đến Xiêm La xin tiếp viện đánh Miến Điện, vua Xiêm đồng ý nhưng với điều kiện là tự độc lập tấn công mà không phụ thuộc vào quân Anh.
Quân Xiêm La tấn công Miến Điện bằng đường bộ qua biên giới, quân Anh tấn công Miến Điện từ đường biển. Miến Điện hai đầu thọ địch không thể chống đỡ, vua Miến Điện Bagyido phải ký hiệp ước đầu hàng.
Theo Hiệp ước, Miến Điện phải nhường lại các địa phương vùng biển và các đảo cho Anh, đồng thời phải trả số tiền bồi thường chiến tranh là 1 triệu bảng Anh (tương đương 5 triệu đô la), đây là số tiền khổng lồ lúc bấy giờ. Trong Hiệp ước cũng ghi rõ rằng: “Vua Xiêm là đồng minh rất trung thực của nước Anh sẽ được hưởng nhiều quyền lợi.”
Xiêm La nhờ tham gia đánh Miến Điện mà vừa thắng được kẻ thù lâu đời trong lịch sử, lại vừa hưởng được rất nhiều các khoản lợi khác, nhờ đó mà càng thêm vững mạnh.
Năm 1826, Xiêm La ký với Anh một Hiệp ước bình đẳng về việc phân chia ảnh hưởng của mình ở bán đảo Mã Lai, nhờ đó mà được hưởng rất nhiều lợi từ quần đảo này.

Giao thương và xóa bỏ được mâu thuẫn với Mỹ
Đến năm 1833, Xiêm La ký một hiệp định thương mại với Mỹ. Mặc dù hiệp định này có vẻ mang lợi nhiều lợi ích thương mại cho Mỹ, nhưng Xiêm La lại được rất nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật như in ấn, y tế, đóng tàu, v.v…
 Đến năm 1840, đến lượt Xiêm chủ động ký tiếp một hiệp ước với Mỹ nhằm đẩy mạnh hơn nữa trao đổi thương mại giữa hai nước.
Giai đoạn này Mỹ phát triển mạnh, cần mở rộng thị trường, vì thế mà Mỹ đòi hỏi Xiêm nhiều hơn nữa. Năm 1850, Tổng thống Mỹ là Taylor đã cử Josep Barestier đến Xiêm để xem xét lại hiệp ước đã ký năm 1933.
Trong buổi gặp mặt, triều đình Xiêm La niềm nở đón nhận những ý kiến của người Mỹ, dù đó là những ý kiến rất thái quá và bất bình đẳng nhằm độc chiếm thị trường Xiêm La. Khi trở về triều đình Xiêm La mới soạn thảo một công hàm cho Josep Barestier từ chối những yêu cầu thái quá của Mỹ.

Trước sự từ chối của Xiêm La, Mỹ tuyên bố sẽ dùng vũ lực tấn công. Rồi đe dọa bài trừ hàng hóa Xiêm, cấm thương nhân người Xiêm đến Mỹ buôn bán, đóng cửa thông thương với Xiêm.
Phía Xiêm cũng giải thích rằng mình đã ký nhiều hiệp ước thương mại với những nước khác, vì thế nếu đồng ý với các điều khoản của Mỹ thì buộc Xiêm phải vi phạm các hiệp ước đã ký với các nước khác, điều này là không thể được.
Thấy Xiêm La không đồng ý, người Mỹ buộc phải nhượng bộ. Kỳ thực Mỹ cũng không dám dùng vũ lực hay kinh tế để tấn công Xiêm La, bởi nếu tấn công họ cũng sẽ phải đụng độ với các nước tư bản châu Âu vốn đang có nhiều lợi ích ở Xiêm La. Mặt khác Xiêm La cũng trang bị được vũ khí hiện đại của châu Âu vì thế mà không dễ gì giành được chiến thắng.

Xiêm La – Nơi bất khả xâm phạm
Năm 1885, Pháp cơ bản đã đánh chiếm được Đại Nam. Triều đình nhà Nguyễn phải trao cho Pháp quyền bảo hộ Campuchia. Nước Anh cũng đã có được Ấn Độ và Miến Điện. Cả Anh và Pháp lúc này đều muốn có được Xiêm La vì thế mà xảy ra mâu thuẫn. Thế nhưng nếu hai nước cùng đánh lẫn nhau thì không dễ gì thắng mà thiệt hại sẽ rất lớn, chưa kể đến việc sẽ động chạm đến lợi ích của các nước tư bản khác ở Xiêm.
Chính vì thế mà phía Pháp chủ động ngồi vào bàn đàm phán cùng Anh, hai nước cùng thống nhất hòa giải vấn đề quyền lợi ở Xiêm La, nhằm tiếp tục đảm bảo quyền lợi của mình ở đất nước này.
Với việc mở cửa giao thương, rất nhiều nước tư bản đã vào Xiêm như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Mỹ nhưng không một nước nào có đủ sức mạnh để chi phối Xiêm, cũng như biến Xiêm thành thuộc địa của họ.
Chính vì thế mà thời gian này, trong khi khắp thế giới nổ rộ phong trào xâm chiếm mở rộng thuộc địa, trong khi vùng Đông Nam Á hoàn toàn trở thành thuộc địa, thì riêng Xiêm La lại trở thành nơi bất khả xâm phạm, thậm chí phát triển vững mạnh hơn.



25 tháng 2, 2020

Sự trở về kỳ diệu của người lính Nhật


Sự trở về kỳ diệu của người lính Nhật


Binh sĩ Shoichi Yokoi –
người anh hùng của đất nước Nhật Bản.

Câu chuyện về ông, Shoichi Yokoi, một binh sĩ Nhật Bản, người đã “ẩn mình” trong khu rừng nhiệt đới ở Guam trong hơn một phần tư thế kỷ để tránh sự truy đuổi của các lực lượng Mỹ đã trở nên quen thuộc với người dân và du khách đến hòn đảo này. Sự sống sót kỳ diệu cho đến khi được trở về Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ có thể nói là một nghị lực sống phi thường ở ông. Soichi Yokoi được sinh ra và lớn lên trong một ngôi làng nông nghiệp gần thành phố Nagoya ở miền Trung Nhật Bản. Trước khi nhập ngũ năm 1941, ông là một thợ may ở thị trấn Saori, tỉnh Aichi. Ban đầu, Yokoi phục vụ trong Sư đoàn Bộ binh 29 ở Manchukuo (vùng đất do Nhật Bản lập ra vào năm 1932 ở phía Đông Bắc Trung Quốc). Năm 1943 ông được chuyển giao cho Trung đoàn 38 trên quần đảo Mariana (phía Nam Nhật Bản). Tháng 2/1943, ông đặt chân lên đảo Guam. Những ngày tháng phải sống chui lủi của Yokoi bắt đầu vào tháng 7/1944 khi các lực lượng Mỹ tấn công giành lại quyền kiểm soát đảo Guam từ tay người Nhật Bản. Người Nhật thất thủ trên đảo Guam và cũng từ thời điểm đó rất nhiều người lính Nhật Bản, trong đó có Yokoi không thể liên lạc được với đất liền.

Lẩn trốn
Binh sĩ trong quân đội Nhật đều được tôi luyện để có một tinh thần thép, chiến đấu đến cùng chứ không bao giờ được đầu hàng. Với họ, sống sót trong trại tù binh bị coi là nỗi nhục và phản bội Tổ quốc. Vì vậy, khi quân đội Mỹ nắm quyền kiểm soát đảo Guam vào năm 1944, Yokoi và hơn 1.000 lính Nhật Bản khác đã lẩn trốn trong rừng chứ không tự tử hay đầu hàng. Nhiều người trong số họ đều bị bắt trong vòng một vài năm hoặc chết vì đói, bệnh tật. Yokoi và 2 người lính khác là những binh sĩ Nhật cuối cùng còn lại trong rừng.
Yokoi cùng đồng đội đã buộc phải tự xoay xở để không bị bắt làm tù nhân. Họ phải tìm nơi lẩn trốn và xóa sạch mọi dấu vết của mình ở trên đảo. Họ sống chủ yếu bằng cách bắt giết gia súc ở địa phương. Nỗi lo sợ bị người Mỹ cũng như người dân địa phương phát hiện buộc họ phải dần dần rút sâu vào rừng. Ở đó họ chỉ có thể ăn cóc, lươn và chuột để sống qua ngày. Yokoi đã làm một cái bẫy bằng các cây lau sậy để bắt lươn. Nghề may đã giúp ông dệt quần áo bằng vỏ cây. Cũng chính trong khu rừng rậm này, Yokoi đã kiên trì đào một căn hầm trú ẩn dưới lòng đất.
Đến khoảng năm 1964, 2 người bạn sống chết với ông trong hơn 20 năm trên đảo đã bỏ ông ra đi trong một trận lũ lụt. Từ đó cho đến khi được tìm thấy, ông sống một mình trong căn hầm dưới lòng đất. Yokoi tiếp tục nuôi dưỡng hy vọng sống sót của mình bằng cách săn bắn, chủ yếu là vào ban đêm. Ông sử dụng cây bản địa để làm quần áo, làm giường ngủ cùng các đồ dùng cần thiết khác và cất giấu cẩn thận trong căn hầm của mình. Giữ cho mình luôn bận rộn là cách để ông tránh những suy nghĩ quá nhiều về tình cảnh của mình cũng như hy vọng trở về. Ông đã từng tự nhủ với mình rằng ông không thể chết ở đây, không thể để xác mình rơi vào tay kẻ thù, ông buộc phải trở về để chết ở nơi chôn nhau cắt rốn. Ý chí phải sống bằng mọi giá của ông, đặc biệt trong 8 năm cuối cùng sống một mình trên đảo khiến người ta không khỏi khâm phục. Dù cũng có đôi lúc tuyệt vọng nhưng ông chưa bao giờ từ bỏ hy vọng sống của mình.

Trở về
Vào một buổi tối tháng 1/1972, hai người đàn ông địa phương trong lúc đi kiểm tra bẫy tôm của họ trên một con sông nhỏ ở Talofofo đã phát hiện ra Yokoi và nghĩ rằng ông là một người dân làng Talofofo.
Giật mình khi nhìn thấy con người sau nhiều năm sống một mình, ông hoảng sợ khi nghĩ rằng tính mạng đang gặp nguy hiểm và cố gắng chộp lấy chiếc súng săn để tấn công họ.
Sức khỏe suy yếu do chế độ ăn uống kham khổ trong một thời gian dài khiến ông nhanh chóng bị 2 người đàn ông quật ngã và đưa ra khỏi rừng.
Lo sợ bị trả về như một tù nhân chiến tranh - sự sỉ nhục lớn nhất đối với một người lính Nhật Bản và gia đình anh ta khi trở về, Yokoi đã khóc và đề nghị được chết trong rừng.
Hai tuần sau khi được phát hiện trong rừng, Yokoi được đưa về Nhật Bản và được chào đón như một người anh hùng. Hàng ngàn người Nhật đứng dọc theo xa lộ vẫy cờ Nhật Bản chào đón ông trở về nhà. Cuộc trở về của ông được các phương tiện truyền thông trong nước đưa đậm nét. Ông đứng khóc trước ngôi mộ mà gia đình đã lập khi nghĩ rằng ông đã bỏ mạng trên đảo Guam năm 1944.
Nhiều người lo lắng về việc làm thế nào ông có thể thích nghi với cuộc sống mới ở Nhật Bản, nhưng dường như đó không phải là vấn đề với người đàn ông 58 tuổi. Ông kết hôn sau 6 tháng trở về, định cư ở vùng nông thôn tỉnh Aichi và thường xuyên được mời nói chuyện về các kỹ năng sống và đưa các bài giảng cho học sinh, sinh viên các trường học trên cả nước về cách sống tiết kiệm.

Vinh danh
Ông Yokoi đã trở thành một người nổi tiếng ở Nhật Bản. Bởi ông chính là minh chứng sinh động cho các giá trị trước chiến tranh của người Nhật: trung thành với đất nước và vượt qua số phận để thành công.
Câu nói đầu tiên của ông khi trở về Nhật Bản "mặc dù rất xấu hổ nhưng tôi đã trở lại" sau này đã trở nên phổ biến ở Nhật Bản.
Năm 1977, người ta đã dựng phim tài liệu có tên Yokoi và cuộc sống bí mật trong 28 năm ở Guam. Ông đã nhận được khoản tiền tương đương 300 USD lúc đó cho bộ phim này, cùng với món tiền lương hưu nhỏ. Năm 1991, ông được tiếp kiến Nhật hoàng Akihito. Ông xem sự kiện này là niềm vinh dự lớn nhất đời mình.
Trước khi qua đời vào năm 1997 ở tuổi 82 sau một cơn đau tim, Yokoi đã cùng với vợ là Mihiko trở lại Guam nhiều lần. Một số đồ dùng gắn bó với ông suốt những năm tháng sống trong rừng, bao gồm cả bẫy lươn và chiếc máy dệt, vẫn còn được trưng bày tại một bảo tàng nhỏ trên đảo. Căn hầm của Yokoi cũng trở thành một điểm thăm quan nổi tiếng trên đảo. Du khách đến đảo Guam có thể đi bằng cáp treo tới căn hầm Yokoi gần khu vực thác Talofofo.
Sử dụng cuốn hồi ký của Yokoi, năm 2009, Hatashin, cháu trai của ông đã xuất bản cuốn sách bằng tiếng Anh với tiêu đề Hồi ký chiến tranh của Yokoi và cuộc sống trên đảo Guam, 1944-1972.


18 tháng 2, 2020

Dành các quý ông, quý bà 60 tuổi trở lên.


Dành các quý ông, quý bà 60 tuổi trở lên.

* Ðêm Bảy: ngủ trên 7 giờ trong một đêm
* Ngày Ba: một ngày ăn ba bữa hay nhiều hơn.
* Vô ra không tính: Mỗi lần đi ra hoặc đi vô, nhớ uống nhiều nước.


1. Câu châm ngôn thứ nhất:
“Trong thiên hạ, không có chuyện làm biếng mà có thể có một thân thể khỏe mạnh.”


2. Câu châm ngôn thứ hai:
- Với những việc không vui của dĩ vãng và nghịch cảnh, không thấy khó chịu.
- Ðối với những ngày sắp tới không có ước vọng quá cao, nhưng luôn cầu bình an hạnh phúc.


BA DƯỠNG
1. Bảo dưỡng.
2. Dinh dưỡng.
3. Tu dưỡng.


BỐN QUÊN
1. Quên tuổi tác.
2. Quên tiền tài.
3. Quên con cái.
4. Quên buồn phiền.


NĂM PHÚC
1. Có thân thể mạnh khỏe, gọi là phúc.
2. Có vui thú đọc sách, gọi là phúc.
3. Có bạn bè tri kỷ, gọi là phúc.
4. Có người nhớ đến, gọi là phúc.
5. Làm những việc mà mình thích làm, gọi là phúc.


SÁU VUI
1. Một vui là hưu nhưng không nghĩ.
2. Hai vui là con cái độc lập.
3. Ba vui là vô dục tắc cương.
4. Bốn vui là vui vẻ vấn tâm mà không xấu hổ..
5. Năm vui là có nhiều bạn hữu.
6. Sáu vui là tâm tình không già.


BẨY SUNG SƯỚNG
1. Biết đủ thường sung sướng.
2. Biết giải trí khi nhàn rỗi.
3. Biết đắc chí tìm niềm vui.
4. Khi cấp thời biết tìm niềm vui.
5. Biết dùng người làm vui.
6. Biết vui khi hành thiện.
7. Bình an là vui nhất.


TÁM CHÚT XÍU:
1. Miệng ngọt ngào thêm một chút nữa.
2. Ðầu óc hoạt động thêm một chút nữa.
3. Nóng giận ít thêm một chút nữa.
4. Ðộ lượng nhiều hơn một chú tnữa.
5. Lòng rộng rãi thêm một chút nữa.
6. Làm việc nhiều thêm một chút nữa.
7. Nói năng nhẹ nhàng thêm chút xíu nữa.
8. Mỉm cười nhiều thêm chút nữa.


CHÍN THƯỜNG
1. Răng thường ngậm.

2. Nước miếng thường nuốt.
3. Mũi thường vê.
4. Mắt thường động.
5. Mặt thường lau.
6. Chân thường xoa (bóp).
7. Bụng thường xoay.
8. Chi thường vươn.
9. Hậu môn thường co bóp.


MƯỜI NGUYÊN TẮC KHỎE MẠNH
1. Ít thịt, nhiều rau.
2. Ít mặn, nhiều chua.
3. Ít đường, nhiều trái cây.
4. Ít ăn, nhai nhiều.
5. Ít áo, tắm nhiều.
6. Ít nói, làm nhiều.
7. Ít muốn, bố thí nhiều.
8. Ít ưu tư, ngủ nhiều hơn.
9. Ít đi xe, đi bộ nhiều.
10. Ít nóng giận, cười nhiều hơn.


Nếu 10 điều trên nếu thấy quá nhiều và khó nhớ; xin các quý ông, quý bà chỉ cần nhớ:
1) Ðêm Bảy: ngủ trên 7 giờ trong một đêm
2) Ngày Ba: một ngày ăn ba bữa hay nhiều hơn.
3) Vô ra không tính: mỗi lần đi ra hoặc đi vô, nhớ uống nhiều nước


Chúc cả nhà ngày mới vui vẻ !




28 tháng 1, 2020

VÀO XUÂN


VÀO XUÂN


Sương giăng trên đỉnh núi
Mưa lất phất đầu thôn
Những ánh màu sắc lạ
Che kín cả trời xuân

21.01.2020

23 tháng 1, 2020

Dâm dương hoắc - thuốc bổ cho “bản lĩnh” đàn ông


Dâm dương hoắc - thuốc bổ cho “bản lĩnh” đàn ông
BS. NGUYỄN PHÚ LÂM


Dâm dương hoắc lá hình tim

Tương truyền, lá cây được gọi là dâm dương hoắc vì ngày xưa các mục tử thường lấy lá này cho dê ăn để làm tăng khả năng giao phối của chúng.
Dâm dương hoắc (tên khoa học là epimedium, thuộc họ hoàng liên gai - Berberidaceae) là một trong những vị thuốc bổ dương của y học cổ truyền. Đây là lá phơi hay sấy khô của nhiều loại cây thuộc chi Epimedium như dâm dương hoắc lá to, dâm dương hoắc lá mác, dâm dương hoắc lá hình tim, dâm dương hoắc có lông mềm...

Công dụng: ôn thận, tráng dương
Theo y học cổ truyền, dâm dương hoắc vị cay ngọt, tính ấm; có công dụng ôn thận, tráng dương (làm ấm tạng thận và khỏe dương khí), cường cân tráng cốt (làm mạnh gân xương) và khứ phong, trừ thấp.
Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh liệt dương, di tinh, tinh lạnh, muộn con, lưng đau gối mỏi, gân cốt co rút, bán thân bất toại, tay chân yếu lạnh, phong thấp... Dâm dương hoắc có ở Trung Quốc và một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
Y học hiện đại ghi nhận, trong dâm dương hoắc có chứa hàm lượng L-Arginine rất cao (L-Arginine là chất kích thích sản xuất hoóc-môn tăng trưởng, tăng cường sinh dục, thiếu chất này sẽ làm ảnh hưởng đến sự ham muốn).
Chiết xuất được trong lá dâm dương hoắc những nhóm chất có tác dụng làm tăng lưu lượng máu và cải thiện chức năng tình dục bao gồm: alcaloid, flavonoid và saponosid, phytosterol, tinh dầu, axít béo, vitamin E.

Rượu dâm dương hoắc
Dâm dương hoắc thường được dùng là thuốc ngâm rượu, có thể dùng độc vị, dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Để đảm bảo dược tính cho dâm dương hoắc cần chọn dược liệu tốt, không ẩm mốc và sao tẩm đúng. Có mấy cách sao dâm dương hoắc:
Sao với mỡ dê: 1 lạng dâm dương hoắc sao với 20g mỡ dê, sao sao nhỏ lửa cho đến khi thấm hết mỡ là được. Sao với muối: dùng nước muối 2% với lượng vừa đủ, sao dâm dương hoắc cho đến khi khô hết nước, dược liệu chuyển màu hơi đen là được.
Sao với rượu: mỗi lạng dâm dương hoắc cần dùng 20 - 25 ml rượu, phun đều rồi sao nhỏ lửa cho đến khi dược liệu khô.
Sao với bơ: mỗi lạng dâm dương hoắc cần dùng 25g bơ, đem bơ đun nóng chảy rồi cho dược liệu vào sao cho đến khi khô. Sao thường: cho dâm dương hoắc vào chảo, sao lửa nhỏ cho đến khi chuyển màu hơi đen.
Chúng tôi thường dùng cách sao dâm dương hoắc với mỡ dê để vừa tăng dược tính vừa tạo mùi thơm.
Rượu dâm dương hoắc ngâm độc vị có màu xanh đẹp. Thường ngâm 500g dâm dương hoắc với 5 lít rượu gạo ngon. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 15 - 20ml.
Để nâng cao hiệu quả của rượu dâm dương hoắc, người ta thường phối hợp nó với một số vị thuốc như: tiên mao, ba kích và nhục thung dung, uy linh tiên…
Qua kinh nghiệm điều trị cho đàn ông bị vô sinh - hiếm muộn (thường kèm theo triệu chứng dương nuy; xét nghiệm thấy tinh trùng thiếu, yếu…), tôi lập bài thuốc ngâm rượu có vị dâm dương hoắc phối hợp với: thục địa, huỳnh tinh, kỷ tử , sinh địa, hắc táo nhân, quy đầu, cam cúc hoa, cốt toái bổ, xuyên ngưu tất, xuyên tục đoạn, nhân sâm, bắc huỳnh kỳ, phòng đảng sâm, đỗ trọng, đảng sâm, trần bì, đại táo, lộc giác giao.
Trong đó: dâm dương hoắc cùng thục địa, nhục thung dung, huỳnh tinh, kỷ tử: bổ thận sinh tinh; lộc nhung, lộc giác giao: bổ mạnh tinh huyết; nhân sâm, đảng sâm, bắc kỳ, đan sâm: bổ khí; đương quy, xuyên khung: dưỡng huyết; sinh địa, táo nhân: dưỡng huyết, an thần…
Với bài thuốc ngâm rượu có dâm dương hoắc này, nhiều người đã có sức khỏe tình dục tốt hẳn lên, đặc biệt là đã có con sau nhiều năm hiếm muộn.
Cần lưu ý: dùng dâm dương hoắc phải có sự hướng dẫn của thầy thuốc có kinh nghiệm; phụ nữ có thai không nên dùng.


22 tháng 1, 2020

Ikigai – bí quyết sống lâu của người Nhật BảnIkigai – bí quyết sống lâu của người Nhật Bản


Ikigai – bí quyết sống lâu của người Nhật Bản
      
Hạ Chi



Người Nhật bấy lâu nay vẫn có tiếng là sống lâu sống khoẻ trên thế giới. Và bí quyết trường thọ của họ
 có thể gói gọn trong một từ: Ikigai.
Trong tiếng Nhật, iki có nghĩa là “sống” và gai có nghĩa là “lý do” – ikigai hợp lại có nghĩa là “lý do bạn sống. Trường phái tư tưởng này bắt nguồn từ triều đại Heian (từ năm 794 đến 1185 sau Công nguyên), nhưng chỉ tới thập kỷ gần đây nó mới thu hút được sự chú ý của hàng triệu người trên thế giới.
Phong cách sống ikigai đặc biệt nổi tiếng ở Okinawa, một cụm đảo nhỏ ở phía nam Nhật Bản. Nơi đây còn có biệt danh là “Vùng đất của những người bất tử” vì người dân vùng này có tuổi thọ trung bình cao nhất, cùng với tỷ lệ các cụ trăm tuổi cao nhất thế giới.

Lý do chúng ta thức dậy mỗi sáng
Trong một bài diễn thuyết trên diễn đàn TED năm 2009, diễn giả kiêm nhà báo Dan Buettner đã trình bày những điểm chung của 5 vùng đất có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới. Trong những “vùng xanh dương” này, như cách Buettner định nghĩa, Okinawa xếp đầu bảng về tuổi thọ trung bình.
“Ở nước Mỹ, chúng tôi chia quãng thời gian sống của người trưởng thành ra làm hai: thời gian làm việc và thời gian nghỉ hưu,” ông nói. “Ở Okinawa, thậm chí còn không có từ nào để nói về nghỉ hưu. Thay vào đó người ta dùng từ ikigai, có nghĩa là ‘lý do bạn thức dậy mỗi sáng.'”

Để minh hoạ cho bài diễn thuyết của mình, Buettner kể lại câu chuyện của một vài bách niên nhân người Okinawa. Với một ngư ông 101 tuổi, ikigai là bắt cá cho gia đình 3 lần một tuần; còn với một cụ bà 102 tuổi, đó là chăm nom cho đứa chít bé nhỏ của mình, công việc mà cụ ví von là “giống như nhảy vào thiên đường vậy“; còn với một võ sư karate 102 tuổi thì ikigai là dạy võ cho môn đệ của mình.

Tựu chung lại, những giá trị sống giản đơn mộc mạc này cho chúng ta hiểu được bản chất của ikigai: đó là cảm giác có mục đích, có ý nghĩa và có động lực trong cuộc sống.

Những lợi ích sức khoẻ của ikigai
Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm ra bí quyết của một cuộc sống khoẻ mạnh và trường thọ. Theo khoa học hiện đại, câu trả lời là tổng hoà của các yếu tố như nguồn gen tốt, ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên. Còn một yếu tố không thể thiếu nữa mà các nghiên cứu mới đây đã chỉ ra: chính là tìm được ý nghĩa cuộc sống.
Trong một nghiên cứu công bố năm 2008 từ trường Đại học Tohoku, người ta đã phân tích dữ liệu từ hơn 50.000 người với độ tuổi từ 40 đến 79, từ đây, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những ai có ikigai đều có tỷ lệ mắc bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong thấp hơn. 95% người có ikigai vẫn sống sau 7 năm so với chỉ 83% người không có.
Các thông tin trên cũng có nghĩa rằng ikigai đảm bảo cho chúng ta có cuộc sống lâu dài hơn. Nhưng theo kết quả của nghiên cứu này, việc tìm thấy ý vị trong cuộc sống có thể tạo động lực cho con người sống hạnh phúc và năng động hơn.

Đi tìm ikigai trong con người bạn
Không có cách đơn nhất nào để tìm kiếm ikigai của bạn, nhưng bạn có thể bắt đầu bằng việc đặt ra một vài câu hỏi:

-Điều gì khiến bạn hạnh phúc?
-Bạn giỏi làm gì?
-Điều gì hoặc ai đó mà bạn cảm thấy trân trọng?
-Động lực để bạn thức dậy mỗi sáng là gì?
Đi tìm ikigai trong bạn sẽ mất không ít thời gian. Tác giả Ken Mogi của cuốn sách “Đánh thức Ikigai trong bạn” đã tóm lược bí kíp của ông trong 5 cột trụ sau đây.

1. Bắt đầu bằng những việc nhỏ
Bắt đầu bằng những việc nhỏ và thực hiện cẩn thận từng bước là căn bản nhất của cột trụ này – và điều này áp dụng với tất cả mọi thứ trong cuộc đời của bạn.
Ví dụ, những người thợ thủ công dành hết thời gian và công sức để tạo ra những sản phẩm đẹp mắt và tinh xảo nhất. Họ cẩn thận tạo ra từng chi tiết nhỏ một, cho đến khi hoàn thành tác phẩm. Việc bắt đầu từ những thứ nhỏ như vậy đưa họ đi được quãng đường rất dài.

2. Giải phóng bản thân
Khi bạn giải phóng bản thân, bạn có thể quẳng đi những nỗi ám ảnh và nhìn mọi thứ quan trọng bằng góc nhìn rõ ràng và tích cực hơn.
Học cách tự chấp nhận bản thân là cốt lõi của cột trụ này, nó cũng là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất trong đời. Nhưng nếu bạn có thể vượt qua được trở lực này và sống hạnh phúc với con người bạn, phần thưởng có thể sẽ rất phi thường.

3. Hài hoà và bền vững
Bạn không thể đạt được những mục tiêu của mình nếu cứ liên tục tranh đấu với những người xung quanh. Hãy tu dưỡng tâm tính và giữ một tâm thái bình hoà với mọi người, bạn sẽ xây dựng và duy trì được một hệ thống những người ủng hộ và giúp đỡ trong những thời khắc khó khăn nhất của cuộc đời.

4. Niềm vui với những điều nhỏ bé
Hãy cảm thấy hạnh phúc với những điều nhỏ bé – không khí trong lành buổi sớm, một tách cà phê hay tia nắng mặt trời ấm áp – những điều này có thể là một động lực giúp bạn thức dậy mỗi sáng.

5. Sống với thực tại
Đây có lẽ là điều thâm thúy nhất. Hãy sống với thực tại, điều quan trọng là tập trung vào hiện tại và duy trì chính niệm hàng ngày.
Rất nhiều đô vật sumo nói rằng sống với thực tại là điều nhất thiết phải chuẩn bị trước mỗi trận đánh. Họ nói rằng sống với thực tại giúp duy trì sự tập trung cho những màn trình diễn tốt nhất.

Theo CNBC
Hạ Chi tổng hợp.


20 tháng 1, 2020

Kinh lạc: Vì sao người xưa biết trong khi giải phẫu tìm không thấy?


Kinh lạc: Vì sao người xưa biết trong khi giải phẫu tìm không thấy?
      
Lê Minh


Sơ đồ kinh lạc trên thân thể người

Trên thế giới, thứ thần bí nhất chính là thân thể người. Dẫu có thể giải phẫu nó, phân tích cấu tạo nội tạng của nó, nhưng nhận thức của chúng ta về sự vận động trong cơ thể lại mịt mù như một con thuyền nhỏ giữa biển khơi. Điều thần bí nhất trong cơ thể người chính là kinh lạc, có thể cảm nhận được, nhưng lại không thể giải phẫu thành vật chất có thể nhìn thấy được.
Kinh lạc là sự tồn tại thần bí của những vật chất vô hình, giải phẫu lâm sàng về căn bản không tìm thấy tung tích của nó. Dẫu là máy móc khoa học hiện đại tiên tiến nhất cũng khó có thể thăm dò chính xác sự tồn tại và hình thái của nó. Điều khiến người ta khó hiểu nhất là vì sao một thứ nhìn không thấy, sờ không được như vậy, lại được mô tả một cách chuẩn xác trong “Hoàng đế nội kinh”? Vì sao trong cuốn “Tử ngọ lưu chú” lại mô tả chuẩn xác như vậy về thời gian đóng mở của từng huyệt đạo?

Lâu dần, châm cứu, vốn bị y học phương Tây bài xích là vô căn cứ, lại nở rộ khắp các nơi trên thế giới, vô cùng thịnh hành. Không phải kinh mạch không tồn tại, mà là y học, khoa học hiện đại chưa phát triển tới mức có thể chứng minh sự tồn tại của kinh mạch. Gần 100 năm qua, rất nhiều nhà khoa học tiến hành chứng thực, nghiên cứu kinh lạc. Khi sử dụng điện trở để tìm hiểu, thì phát hiện ra khu vực mà kinh lạc đi qua, điện trở sẽ hạ thấp rõ ràng. Hay các nhà khoa học lợi dụng sự phát sáng của da để truy tìm nguồn gốc, thì phát hiện thấy tuyến đường có kinh mạch vận hành khá sáng. Còn rất nhiều nghiên cứu nữa cũng đang không ngừng được khám phá.

Dẫu các nhà khoa học bình luận sôi nổi thế nào, thì cảm giác châm cứu tới bệnh nhân là vô cùng chân thực. Cùng một huyệt vị nhưng cách châm cứu khác nhau, sẽ khiến bệnh nhân cảm giác thấy lúc lên lúc xuống, lúc sang trái, lúc sang phải khác nhau. Đau đầu có thể châm cứu huyệt Thái xung ở chân, mất ngủ có thể châm cứu huyệt Dũng tuyền dưới lòng bàn chân.


Nhiều phương pháp chữa bệnh truyền thống như châm cứu dựa trên nguyên tắc của kinh lạc (ảnh: Shutterstock)

Lối tư duy và biện pháp trị bệnh của kinh lạc hoàn toàn khác so với Tây y. Ví như thoát vị đĩa đệm hoặc hẹp, dính hay gai đĩa đệm, sẽ gây tê bì từ chân đến các đầu ngón chân, thậm chí đi lại khó khăn. Có người vì vậy mà phải phẫu thuật, sau khi phẫu thuật bệnh tình cũng không thuyên giảm. Nhưng khi trị liệu bằng châm cứu, bệnh lại được chữa khỏi hoàn toàn. Tình trạng thoát vị đĩa đệm vẫn tồn tại, kỳ thực chỉ là kinh lạc và gân bị tổn thương mà thôi.

Đối với sự tồn tại và tác dụng thực tế của kinh lạc, dẫu giới y học bàn luận sôi nổi, nhưng lại không có lấy một đáp án thuyết phục.
Kỳ thực đáp án là có, chỉ là giới y học hiện đại sợ bị chụp mũ “mê tín”, nên không muốn và cũng không dám nhìn thẳng vào hiện thực này: Tức là sự phát hiện về kinh mạch nên quy công cho những vị thánh nhân tiên hiền có công năng “Nội thị” (nhìn thấu thân thể). Về điều này, Lý Thời Trân, vị thánh y thời nhà Minh, sớm đã chỉ ra rằng: “Con đường vận hành của kinh mạch trong cơ thể chỉ những người có khả năng nhìn ngược vào trong, mới thấy được rõ ràng.”

Nhìn lại tổng quan sự phát triển của Trung y, những vị thánh y có cống hiến trọng đại với Trung y, về cơ bản đều có công năng “nội thị” (nhìn thấu thân thể). Do vậy, họ mới có thể sử dụng “con mắt thứ 3” nhìn rõ sự tồn tại của kinh mạch, nhìn được tình trạng bệnh của cơ thể người, mới có thể tùy bệnh mà bốc thuốc, từ đó đạt được hiệu quả trị liệu tốt nhất. Ngay như bản thân vị Hoàng đế sáng lập ra thể hệ lý luận trung y, ông cũng là một vị thánh có năng lực nhìn thấu cơ thể. Do vậy, Hoàng đế mới có thể dùng kinh lạc làm cơ sở, xây dựng nên thể hệ Trung y vĩ đại, không hề suy bại theo thử thách của thời gian.

“Linh xu thiên” trong “Hoàng đế nội kinh” còn được gọi là “Châm kinh”, là ông tổ của châm cứu ngày nay. “Nhất châm, nhị cứu, tam dụng dược” là nguyên tắc trị bệnh từ kinh nghiệm trị liệu được người xưa đúc kết. (Cứu là lấy ngải cứu châm lửa đốt vào các huyệt để chữa bệnh.) Kinh lạc không những có thể điều tiết, khơi thông khí huyết, cân bằng âm dương, mà còn có thể trị bệnh, chẩn đoán bệnh. Thường ngày ấn huyệt, vỗ huyệt, đốt ngải vào các huyệt cũng là biện pháp dưỡng sinh rất tốt. Luyện khí công hay ngồi tĩnh tọa đều là đang luyện khí của kinh lạc.

Đạo gia giảng mỗi huyệt vị đều là một khiếu (một hốc), khiếu này là cửa mà khí kinh lạc vào ra, cũng là cổng tiếp nạp. Khiếu môn này có thể đóng, có thể mở, có thể đổi chốt, nó tiếp nạp Thiên khí, nhân khí và địa khí. Hệ thống ẩn giấu trong cơ thể người được tạo thành bởi kinh lạc chạy ngang dọc, ra vào khắp các huyệt vị, liên lạc bên trong và bên ngoài tạng phủ. Cho nên, trong nội tạng không có chỗ cho huyết quản thần kinh, nhưng kinh lạc lại có thể xuyên suốt, hình thành nên “nội kinh” hay còn gọi là chỉnh thể “kinh lạc kết nối, tuần hoàn không đầu không cuối.” Đây chính là nguyên do trị liệu bằng châm cứu có công hiệu thần kỳ.

Hiệu quả trị liệu của châm cứu, về lâm sàng có thể quan sát thấy rằng, người bệnh càng đơn thuần, chất phát, càng thích gần gũi với tự nhiên, có lòng tin về châm cứu, thì càng dễ đạt được trạng thái Thiên nhân hợp nhất, hiệu quả chữa trị rất tốt. Hơn nữa thầy thuốc càng có tu dưỡng, tâm tồn thiện lương, thì y thuật lại càng cao siêu, càng có thể đón nhận, chuyển trời khí Thiên địa nhân, hiệu quả châm cứu sẽ ngày càng tốt hơn.