17 tháng 5, 2020

ĐỪNG XEN VÀO VIỆC CỦA NGƯỜI KHÁC


ĐỪNG XEN VÀO VIỆC CỦA NGƯỜI KHÁC

Đinh Tiến Hùng

Hôm nay gia đình anh chị Cường Thịnh dỡ căn nhà cũ, thuê máy san gạt đất giải phóng mặt bằng để giao cho chủ thầu xây dựng căn nhà 2 tầng một xép mà anh chị đã lên kế hoạch tích lũy tài chính hơn 10 năm nay.
Hai vợ chồng anh đang thu dọn thì mấy ông hàng xóm đến xem khu đất. Ở nông thôn đâu cũng vậy, nhà nào làm gì, có việc gì đố thoát khỏi con mắt tò mò, sự bàn tán của xóm giềng.
Anh chị nhanh miệng:
- Cháu chào các ông, mời các ông đến chơi. Hôm nay gia đình cháu thu xếp mặt bằng để hôm này khởi công ạ.
Ông Ngàn hỏi:
- Anh chị định xây mấy tầng?
- Dạ. Cháu xây 2 tầng và một gác xép ạ.
Ông Bách:
- Làm thế trông không đẹp, mất cân đối.
Ông Thiên nói:
- Các phòng bố trí thế nào anh?
- Dạ. Cửa vào là phòng khách sâu 7 mét ạ, tiếp là bếp và phòng ăn, toilet, trong cùng là phòng ngủ 1 ạ; tầng xép gồm sảnh rồi phòng ngủ 2 khép kín; tầng 2 thứ tự phòng thờ, phòng ngủ 3, toilet, phòng ngủ 4, sân phơi ạ.
Ông Thiên:
- 4 phòng ngủ, 3 toilet nhiều quá, tốn kém.

                                     ***
Trên đời này có 3 việc :
Việc của bản thân
Việc của người khác
Việc của ông trời.

Chúng ta thường buồn phiền là do: quên mất việc bản thân, thích xen vào việc người khác và lo lắng về việc của ông trời.

Muốn vui vẻ rất đơn giản, chỉ cần: Làm tốt việc của bản thân, đừng xen vào việc người khác và đừng nghĩ về việc của ông trời.

15.5.2020


24 tháng 4, 2020

BA BÀI THƠ NHỎ


BA BÀI THƠ NHỎ

Đỗ Thu Hằng



1.
Bụi trần đầy rẫy
Thế sự đổi thay
Nhiều lúc ngắm cây
Học điều lặng lẽ.

2.
Sen trắng thanh tịnh
Giữa lòng nhân gian
Một chút tĩnh mịch
Quên đời gian nan.

3. 
Yêu màu hoa cũ
Thương đài sen nâu
Thiền tâm đêm lạnh
Trôi đi âu sầu .



23 tháng 4, 2020

Bản đồ cổ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa


Bản đồ cổ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa

Các bản đồ từ cổ đại cho đến thời Dân quốc do chính Trung Quốc phát hành đều thể hiện rõ lãnh thổ phía nam nước này chỉ tới đảo Hải Nam.


Bản đồ Hoa Di đồ có nguồn gốc từ năm 1136, 
Ảnh: CHỤP MÀN HÌNH SCMP

Trong khi hệ thống bản đồ cổ thể hiện chủ quyền xuyên suốt của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì bản đồ Trung Quốc do chính nước này ấn hành trước giai đoạn1947 – 1948 (thời điểm “đường lưỡi bò” phi lý chính thức xuất hiện) đều dừng ở đảo Hải Nam. Đây là minh chứng hùng hồn cho chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, đồng thời phủ nhận luận điệu “Trung Quốc phát hiện và làm chủ các quần đảo ở Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông) từ thời Tần, Hán”.

“Sự lừa đảo lịch sử”
Theo tờ South China Morning Post, nhiều bản đồ cổ của Trung Quốc đã được các nhà nghiên cứu chụp ảnh và lưu trữ ở Thư viện Quốc hội Mỹ và ai cũng có thể xem được. Trong đó có tấm Hoa Di đồ là bản rập lại từ một bản đồ khắc trên đá năm 1136, thời nhà Tống, ở Phúc Xương (nay thuộc tỉnh Hà Nam) cho thấy từ đảo Hải Nam trở xuống Biển Đông không có khu vực nào là thuộc Trung Quốc. Tương tự, các bản đồ thời nhà Minh (1368 – 1644), đơn cử như tấm Đại Minh hỗn nhất đồ, vẫn cho rằng đảo Hải Nam là “chân trời” phía nam của Trung Quốc. Dưới triều vua Gia Tĩnh (1521 – 1566), Trung Quốc từng phát hành cuốn sách Quảng Đông lịch sử địa đồ tập, một lần nữa xác định biên giới phía nam của Trung Quốc kết thúc ở Quỳnh Châu thuộc Hải Nam. Cũng có những bản đồ hoặc thư tịch vẽ 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng có ghi rõ các đảo này “thuộc phiên quốc”, theo các tài liệu của Tạp chí Phương Đông thuộc Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông (trực thuộc Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam).


Bản đồ Đại Minh hỗn nhất đồ 
ẢNH: CHỤP MÀN HÌNH SCMP

Sang thời Nhà Thanh (1644 – 1911), các giáo sĩ dòng Tên được triều đình phê chuẩn tiến hành khảo sát, đo đạc và vẽ một loạt bản đồ. Trong số này có thể kể đến Cổ Kim đồ thư tập thành, Hoàng dư toàn lãm phân tỉnh đồ, Quảng Đông toàn đồ và Đại Thanh đế quốc toàn đồ, tất cả đều không thể hiện cái gọi là Tây Sa và Nam Sa (tên gọi ngụy xưng của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa). Chưa hết, tháng 7.2012, tiến sĩ Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu – Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, đã tặng trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia tấm bản đồ xuất bản năm 1904 của Trung Quốc mang tên Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, xác định rõ ràng đảo Hải Nam là biên cương cực nam của Trung Quốc. Từ tháng 8 – 11.2012, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tổ chức trưng bày bản đồ này cho đông đảo khách tham quan trong nước lẫn quốc tế.
Năm 1842, bộ sách Hải quốc đồ chí xuất bản ở Trung Quốc do tác giả Ngụy Nguyên biên soạn cũng không thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Bộ sách ban đầu gồm 50 quyển, trước khi được bổ sung lên đến 100 quyển, mô tả các nước khắp năm châu bốn biển. Trong quyển 9, Ngụy Nguyên vẽ Đông Nam Dương các quốc diên cách đồ về các nước Đông Nam Á. Trong đó, ngoài khơi Việt Nam có ghi rõ “Đông Dương Đại Hải” cùng những chấm nhỏ li ti mang tên Vạn Lý Trường Sa (tức Hoàng Sa) và Thiên Lý Thạch Đường (tức Trường Sa). Theo cách thể hiện trên, 2 quần đảo hoàn toàn nằm trong Đông Dương Đại Hải (tức Biển Đông) thuộc chủ quyền Việt Nam. Bên cạnh đó, bản đồ tỉnh Quảng Đông mang tên Quảng Đông dư địa tổng đồ được vẽ theo kỹ thuật phương Tây có giới hạn tọa độ là vĩ tuyến 18 độ 5 bắc, trong khi quần đảo Hoàng Sa nằm xa hơn về phía nam, ở vĩ tuyến 16 độ 30 bắc. Ngoài ra còn có tờ bản đồ quân sự Quảng Đông thủy sư doanh quan binh trú phong đồ vẽ năm 1866 ghi chú chi tiết về vùng biển Giao Chỉ nhưng không hề thấy có “Tây Sa” và “Nam Sa”, theo Tạp chí Phương Đông. Những bằng chứng nói trên cho thấy Trung Quốc không có một cơ sở lịch sử nào để tuyên bố yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế, South China Morning Post dẫn lời Thẩm phán Tòa án tối cao Philippines Antonio Carpio gọi “đường lưỡi bò” là một “sự lừa đảo lịch sử khổng lồ” của Trung Quốc.


Bản đồ Trung Quốc năm 1933 công nhận 
cương giới phía nam nước này là đảo Hải Nam. 
ẢNH: TẠP CHÍ PHƯƠNG ĐÔNG

Đường lưỡi bò ở đâu ra ?
Theo Tạp chí Phương Đông, đến năm 1933 dưới thời Trung Hoa dân quốc (1912 – 1949), bản đồ Trung Quốc do Tân Địa học xã Vũ Xương xuất bản vẫn công nhận cương giới phía nam là đảo Hải Nam. Tuy nhiên, đây cũng chính là giai đoạn yêu sách đường lưỡi bò được “sáng tác”. Trong bài viết đăng trên website của Viện Hải quân Úc, chuyên gia Bill Hayton chỉ ra rằng vào năm 1935, Ủy ban Thẩm tra bản đồ của chính quyền Trung Hoa dân quốc tiến hành nghiên cứu và dịch lại các bản đồ khu vực dựa trên bản đồ do phương Tây xuất bản. Trong đó, đa số tên của các thực thể địa lý trên biển đều chỉ là phiên âm từ tiếng nước ngoài chứ không phải tên riêng do Trung Quốc đặt, còn các thuật ngữ như “đảo”, “đá”, “bãi cạn”, “bãi ngầm”… đều bị dịch sai. Năm 1936, ông Bạch Mi Sơ, nhà sáng lập Hội Địa lý Trung Quốc, tiếp tục dựa theo thông tin và cách dịch sai lầm của ủy ban nói trên để cho ra tập atlas Trung Hoa kiến thiết tân đồ, đồng thời tự ý vẽ thêm đường lưỡi bò ôm gần trọn Biển Đông mà không dựa trên bất kỳ căn cứ nào. “Đây là lần đầu tiên đường chữ U xuất hiện trên bản đồ Trung Quốc nhưng đó không phải là văn bản nhà nước mà chỉ là một công trình cá nhân”, học giả Hayton viết.Tai hại hơn, sau Thế chiến 2, Bộ Nội vụ Trung Hoa dân quốc bổ nhiệm 2 học trò của Bạch Mi Sơ là Phó Giác Kim và Trịnh Tư Ước vào các chức vụ liên quan đến địa lý và lãnh thổ. Trong giai đoạn 1947 – 1948, những người này tiếp tục dựa trên tập atlas sai trái của thầy mình để “sáng tác” ra những cái tên mới áp đặt cho những thực thể ở Biển Đông, đồng thời xuất bản nhiều bản đồ chứa đường lưỡi bò. Như vậy có thể kết luận, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông mãi đến đầu thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiện dựa trên sai lầm và cả ý đồ bành trướng của giới quan chức và học giả nước này.

Theo  THANH NIÊN




14 tháng 3, 2020

Nữ hoàng hải tặc bất bại, hoàn lương chỉ vì một câu nói


Nữ hoàng hải tặc bất bại, hoàn lương chỉ vì một câu nói

Trần Hưng

 Trịnh Nhất Tẩu (Tranh qua Kknews.cc)

Trịnh Nhất Tẩu tên thật là Thạch Dương, còn được gọi là Trịnh Thạch Thị, được xem là nữ hoàng trên biển cả. Bà được xem là một trong những nhân vật có quyền lực nhất trong lịch sử hải tặc thế giới.

 Xuất thân người dân tộc Đản Gia, Thạch Dương là người có nhan sắc và phải làm kỹ nữ trên tàu ở vùng biển Quảng Châu. Thời đấy nạn cướp biển hoành hoành khắp nơi, mạnh nhất là Hồng Kỳ bang của Trịnh Nhất. Năm 1801, tình cờ Trịnh Nhất gặp mặt Thạch Dương và đem lòng yêu mến, quyết phải lấy làm vợ.

Có nguồn sử liệu cho rằng Trịnh Nhất đã lệnh cho thuộc hạ cướp phá nhà thổ và đưa người con gái mà mình thích về; cũng có nguồn sử liệu cho rằng Thạch Dương đồng ý theo Trịnh Nhất với điều kiện phải trao một nửa chiến lợi phẩm cho cô ta và đồng thời được tham gia vào nhóm chỉ huy của Hồng Kỳ bang. Và vậy là Thạch Dương trở thành Trịnh Nhất Tẩu (Tẩu: tiếng xưng hô kính trọng dành cho một người phụ nữ).

Hải tặc hoành hành
Sau khi thành vợ chồng, cả hai cùng lãnh đạo Hồng Kỳ bang. Trịnh Nhất vốn là một chiến tướng quả cảm, nay lại có vợ phụ giúp cố vấn thêm nên Hồng Kỳ bang ngày càng mạnh. Hai vợ chồng Trịnh Nhất xây dựng nên đế chế hải tặc hùng mạnh trên vùng biển kéo dài từ Trung Quốc đến tận Malaysia.

 Nhiều nhóm hải tặc của Trịnh Thất (anh họ Trịnh Nhất) cùng với Mạc Quan Phù, Vương Quý Lợi và Ô Thạch Nhị đi theo quân Tây Sơn của Đại Việt nên được trợ giúp nhiều, có địa bàn hoạt động mạnh ở vùng biển của Đại Việt.

 Sau khi quân Tây Sơn bị quân Nguyễn đánh bại, vua Gia Long cương quyết đem quân trấn áp hải tặc. Qua các trận đánh, căn cứ hải tặc lớn nhất tại đảo Giang Bình bị đánh tan, thủ lĩnh Trịnh Thất bị tiêu diệt, các nhóm hải tặc phải chạy về hoạt động tại Trung Quốc.
Trở về Trung Quốc, các nhóm hải tặc có cuộc tranh giành lẫn nhau, từ 12 bang cuối cùng chỉ còn lại 6 bang. 6 bang này cùng ký hiệp ước liên minh để hoạt động, trong đó mạnh nhất là Hồng Kỳ bang của Trịnh Nhất, ông ta được tôn là “minh chủ”. Hồng Kỳ bang lúc này có 600 đến 1.000 thuyền lớn, từ 2 đến 4 vạn hải tặc.

Cũng vào thời điểm đó, năm 1807, Trịnh Nhất bị chết tại vùng biển của của Đại Việt. Có nguồn sử liệu cho rằng thuyền của Trịnh Nhất bị bão lớn đánh chìm xuống đáy biển, không một ai sống sót. Còn cuốn “Tĩnh Hải phân ký” thì cho rằng tàu của Trịnh Nhất bị tàu nhà Nguyễn dùng đại pháo bắn hạ.

 “Minh chủ” bị chết, liên minh các bang hải tặc đứng trước nguy cơ bị gãy đổ, các bang hải tặc khác nhân cơ hội này tìm cách thôn tính Hồng Kỳ bang. Trước tình thế đó Trịnh Nhất Tẩu thay chồng làm thủ lĩnh Hồng Kỳ bang. Năm ấy Trịnh Nhất Tẩu 32 tuổi. Trịnh nhất Tẩu trao việc đánh cướp cho phó tướng của mình là Trương Bảo Tử, còn bản thân thì ra điều lệ xây dựng lực lượng và lo việc kinh doanh.

Dưới sự lãnh đạo của Trịnh Nhất Tẩu, Hồng Kỳ bang ngày càng lớn mạnh, còn mạnh hơn cả thời Trịnh Nhất làm “minh chủ”. Có nguồn cho rằng Hồng Kỳ bang có 200 chiến hạm rất mạnh, mỗi chiến hạm trang bị 20 đến 30 khẩu thần công, 800 tàu chiến loại trung, 1.000 thuyền nhỏ và 4 vạn chiến binh thường trực, lúc đông nhất có đến 10 vạn thuộc hạ. Các nhà sử học đánh giá Hồng Kỳ bang rất mạnh, còn mạnh hơn cả hải quân các quốc gia khác, ví như hải quân Mỹ lúc bấy giờ cũng chỉ có 5 ngàn quân.

Trịnh Nhất Tẩu trở thành thủ lĩnh hải tặc quyền lực và mạnh nhất trong lịch sử, trở thành nữ hoàng hải tặc. Bà còn liên minh với các địa chủ và các địa phương nhằm đảm bảo nguồn cấp lương thực cho mình. Đại bản doanh của Trịnh Nhất Tẩu đặt ở Đại Nhĩ Sơn, hòn đảo lớn nhất ở Hồng Kông, án ngữ Châu Giang Khẩu. Ở đó, có cả xưởng đóng tàu hiện đại của Hồng Kỳ.
Có vũ khí hiện đại nên Hồng Kỳ không hề e ngại quân triều đình, thậm chí nhiều trận tấn công và đánh bại các tàu của phương Tây. Các tàu của Hồng Kỳ bang tung hoàng từ vùng biển Triều Tiên đến Malaysia, thu tiền bảo kê các thuyền cũng như tàu vãng lai, khiến triều đình nhà Thanh cũng như các thương nhân quốc tế bị thiệt hại nghiêm trọng, nhưng quân triều đình không thể làm gì.

Đánh bại liên quân Mãn Thanh, Anh, Bồ Đào Nha
Mùa thu năm 1809, triều đình nhà Thanh chi ra 80.000 lạng bạc liên minh cùng Anh và Bồ Đào Nha thành lập hạm đội liên quân hùng hậu tấn công vào sào huyệt của Hồng Kỳ bang ở Đại Nhĩ Sơn.

Nhận được tin báo, Trịnh Nhất Tẩu điềm nhiên ở bản doanh chỉ huy quân phòng thủ. Bà cùng phó tướng Trương Bảo Tử ra kế sách. Theo kế này Trương Bảo Tử dẫn quân chủ lực đánh thành Quảng Châu, quân hải tặc đánh thẳng một hơi chiếm luôn trọng địa Hổ Môn trấn (nay là thành phố Đông Hoàn tỉnh Quảng Đông). Được tin cấp báo, liên quân phải rút về cứu Quảng Châu. Quân Hồng Kỳ đã tính trước nên chuẩn bị mai phục sẵn. Liên quân vừa bị mai phục phía trước vừa bị truy kích phía sau, hai đầu thọ địch, tiến thoái lưỡng nan.

Trận đánh kéo dài đến 9 ngày đêm thì liên quân hoàn toàn bị đánh tan tác, chỉ vài chiến thuyền may mắn chạy thoát về Quảng Châu, phía Hồng Kỳ bang chỉ có 40 binh sĩ tử trận.
Thất bại này khiến triều đình Mãn Thanh tức giận liên tục phái quân cùng quân phương Tây tiến đánh Đại Nhĩ Sơn. Anh và Tây Ban Nha cũng liên tục gửi thêm quân tiếp viện đến. Hồng Kỳ bang cùng 5 bang phái hải tặc khác cùng hợp sức chống lại, lần lượt đẩy lui các cuộc tấn công của liên quân triều đình và phương Tây.

Trên biển Triết Giang, Trương Bảo Tử bắn chết Thủy sư Đề đốc Từ Đình Hùng; ở Hồng Kông, Nhất Tẩu chỉ huy đại quân tiêu diệt hơn 20 chiến thuyền Đại Thanh cùng 300 thần công hỏa pháo, bắt sống Thủy sư Đề đốc Quảng Đông Tôn Toàn Mưu.

Trong một chiến dịch quy mô lớn, thủy quân Bồ Đào Nha và triều đình hợp lực bao vây Đại Nhĩ Sơn. Thế nhưng liên quân bị các bang hội cướp biển phong tỏa. Trận đánh ác liệt diễn ra suốt 8 ngày đêm. Kết quả liên quân lại bị đánh bại, bị đánh chìm 300 tàu chiến cùng 1.500 hỏa pháo, mất hơn 2.000 binh tướng.

Nữ hoàng hải tặc hoàn lương vì một câu nói
Năm 1810, thủ lĩnh bang cướp biển lớn thứ hai sau Hồng Kỳ là Hắc bang ngỏ ý muốn cầu hôn với Trịnh Nhất Tẩu. Tuy nhiên lúc này Trịnh Nhất Tẩu cùng phó tướng là Trương Bảo Tử đã gắn bó với nhau nên bà ta từ chối.

Triều đình nhà Thanh đánh lần nào cũng thua lần đó nên tìm cách chiêu an, Hắc Kỳ ra hàng trước, khiến liên minh các bang hội cướp biển bị sứt mẻ.

Còn đối với Trịnh Nhất Tẩu, Hoàng Đế nhà Thanh lúc đó là Gia Khánh lại có một cách chiêu an đặc biệt, trong thư có viết: “Nếu có trái tim của một người phụ nữ thì ngày nào đó ngươi sẽ muốn yên bình và nghĩ đến việc sinh con đẻ cái. Bây giờ đã đến lúc đó chưa?”

Câu nói này đánh thẳng vào trái tim của người phụ nữ khiến Trịnh Nhất Tẩu dao động. Nữ hoàng hải tặc nắm trong tay không biết bao nhiêu là vàng bạc châu báu, xây dựng đế chế vững chắc với thuộc hạ hàng vạn người, điều đó khiến Trịnh Nhất Tẩu quên mất mình cũng là một phụ nữ. Mà một phụ nữ thì cũng cần phải một mái nhà, một gia đình yên ấm. Trịnh Nhất Tẩu thực sự muốn nghe theo lời chiêu an của triều đình.
Thế nhưng trong quy định chiêu an bắt buộc kẻ ra hàng phải quỳ xuống chịu tội, mà các hảo hán trong Hồng Kỳ bang xưa nay đều xem thường quan quân nhà Thanh, giờ bảo họ quỳ xuống thì đó là điều không thể. Vì thế Trịnh Nhất Tẩu một mình mạo hiểm gặp tổng đốc Lưỡng Quảng là Bá Linh để đàm phán. Cuối cùng cuộc đàm phán thành công, việc quỳ lạy cũng đã có cách giải quyết.

Hoàng Đế Gia Khánh ra chiếu thư đồng ý để Trịnh Nhất Tẩu và Trương Bảo Tử thành hôn với nhau. Trong lễ cưới Trịnh Nhất Tẩu cùng Trương Bảo Tử quỳ xuống nhận chiếu thành hôn, đồng thời với chiếu chiêu an.

Theo chiếu chiêu an thì toàn bộ của cải của Hồng Kỳ bang có được đều được giữ lại mà không phải nộp cho triều đình, trong 8 vạn cướp biển thì chỉ 126 tên bị hành quyết và 250 tên bị phạt tù vì những tội ác nghiêm trọng, còn lại đều được tha, xóa hết tội mà không bị truy cứu.

Thế là chỉ vì một câu nói của Hoàng đế, nữ hoàng hải tặc Trịnh Nhất Tẩu đã hoàn lương, cưới chồng và hết lòng lo cho mái ấm của gia đình mình. Trương Bảo Tử được phong tam phẩm, sau làm nhị phẩm, nhận chức phó tướng huyện Bành Hồ.

Trong Chiến tranh Nha phiến (1839-1842), Trịnh Nhất Tẩu tham gia tích cực, bà làm tham mưu lên kế sách cho Lâm Tắc Từ đối phó thủy quân Anh.

Năm 1844, Trịnh Nhất Tẩu qua đời, thọ 69 tuổi.

10 tháng 3, 2020

SỨC KHỎE & ĐỜI SỐNG


SỨC KHỎE & ĐỜI SỐNG  
(Nhấn vào từng dòng)